Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi mang tính thời đại. Tổng Bí thư Tô Lâm đã đánh giá, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới(1). Đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt hai mục tiêu chiến lược năm 2030(2) và năm 2045(3), với cơ hội và thách thức đan xen. Bối cảnh đó đòi hỏi đối ngoại, hơn bao giờ hết, phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong để tiếp tục đóng góp xứng đáng vào việc hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tình hình thế giới, khu vực và cơ hội, thách thức đặt ra trong thời gian tới
Nhận diện tình hình thế giới, khu vực đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, với tính bất ổn, bất trắc và bất định ngày càng gia tăng như hiện nay, khó có thể đưa ra một kịch bản chính xác về chiều hướng diễn biến tình hình thế giới và khu vực thời gian tới. Tuy nhiên, từ chuyển động của tình hình hiện nay, có thể đưa ra nhận định về một số chiều hướng lớn của thế giới và khu vực từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 như sau:
Một là, thế giới tiếp tục chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của cán cân sức mạnh giữa các trung tâm quyền lực, các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc, đẩy nhanh sự chuyển động của cục diện thế giới sang hình thái đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Bên cạnh Mỹ và Trung Quốc, sự vươn lên của các cường quốc khác (Nga, Ấn Độ, Bra-xin…), các nước đang phát triển, thực thể phi nhà nước (đặc biệt là các tập đoàn công nghệ) sẽ khiến cục diện đa cực trở nên rõ nét hơn.
Mặc dù các nước lớn sẽ duy trì đối thoại, hợp tác, giảm thiểu rủi ro, song cạnh tranh chiến lược tiếp tục được xem là mặt chủ đạo trong quan hệ giữa các nước lớn ở khu vực. Trong 5 – 7 năm tới, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn không chỉ về an ninh, kinh tế, nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoa học – công nghệ, mà còn về văn hóa, ý thức hệ, sáng kiến toàn cầu; giữa các nước lớn, giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển và giữa nhà nước và thực thể phi nhà nước. Không gian cạnh tranh cũng mở rộng cả trên bộ, trên biển, trên không, không gian mạng, không gian vũ trụ, đáy biển và trong lòng đất. Xu hướng phân tuyến, phân tách nhiều khả năng sẽ gia tăng, thúc đẩy tập hợp lực lượng mới trên nhiều lĩnh vực.
Quan hệ Mỹ – Trung Quốc được dự báo tiếp tục là mối quan hệ chi phối quan hệ quốc tế toàn cầu và khu vực. Các cường quốc khác, bao gồm Nga, Nhật Bản, Ấn Độ sẽ tiếp tục duy trì tiềm lực kinh tế, quốc phòng và vai trò, ảnh hưởng trên trường quốc tế(4).
Các nước đang phát triển, các nước phương Nam sẽ có vị thế lớn hơn. Theo dự báo, đến năm 2050, ở khu vực Đông Nam Á, In-đô-nê-xi-a dự kiến trở thành nền kinh tế lớn thứ 8 thế giới; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khối ASEAN đạt khoảng hơn 3.000 tỷ USD.
Hai là, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của khu vực trong 1 – 2 thập niên tới, nhưng ngày càng bị thách thức mạnh mẽ. Hình thái, tính chất của các cuộc chiến tranh, xung đột trong tương lai ngày càng bất đối xứng, bất quy tắc, sử dụng công nghệ cao và mang tính tiêu hao, ủy nhiệm, thậm chí mang đậm màu sắc hệ giá trị. Trong những năm tới, không loại trừ khả năng có leo thang phức tạp hơn, thậm chí là xung đột quân sự tại khu vực. Trong bối cảnh sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng, bất kỳ xung đột nào bùng nổ giữa các quốc gia cũng có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế, mất an ninh, an toàn hàng hải và có nguy cơ đẩy giá lương thực, năng lượng tăng cao. Mặc dù, vai trò của chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế tiếp tục được coi trọng, nhưng gặp nhiều thách thức hơn do sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ và xu hướng chính trị cường quyền, hành xử đơn phương. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được đánh giá tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực đang định hình, song chịu tác động lớn hơn từ sự lôi kéo của các nước lớn cũng như một số vấn đề bên trong. Đồng thời, có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn các hình thức liên kết, hợp tác đa phương mới, trong đó có các cơ chế “tiểu đa phương”(5); và các lĩnh vực khác, nhất là khoa học – công nghệ mới.
Ba là, các cuộc khủng hoảng có thể diễn ra với tần suất thường xuyên hơn, phạm vi tác động rộng hơn và/có thể là sự kết hợp của các cuộc khủng hoảng (thiên tai, xung đột, đói nghèo, dịch bệnh, bất bình đẳng). Thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng tác động liên thông, đa chiều, xuyên biên giới. Biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, khủng bố, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia,… tiếp diễn gay gắt hơn, đòi hỏi cách tiếp cận đa ngành, liên lĩnh vực và nguồn lực ứng phó ở quy mô toàn cầu.
Bốn là, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục tăng trưởng, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tăng trưởng GDP toàn cầu được dự báo chỉ ở mức 3,2% trong các năm 2024 và năm 2025(6). Trong trung hạn, nhiều khả năng tăng trưởng GDP toàn cầu cũng sẽ thấp hơn so với mức dự báo trước đây, trong đó các nước thu nhập thấp và trung bình đối mặt với nhiều khó khăn trong việc đồng quy lên mức thu nhập cao hơn.
Một mặt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiến bộ khoa học – công nghệ (trí tuệ nhân tạo – AI, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp sinh học, internet vệ tinh, mạng 5G, 6G…) và các xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ tạo động lực cho các lĩnh vực kinh tế năng động mới, như thương mại điện tử, công nghệ tài chính (fintech), ngân hàng số, chuỗi khối (blockchain)…, mở ra cơ hội phát triển bứt phá cho các quốc gia, trong đó có các quốc gia đang phát triển. Mặt khác, dưới tác động ngày càng gia tăng của cạnh tranh nước lớn, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và đầu tư ưu tiên theo đối tác, khu vực địa lý gần gũi (onshoring, friendshoring, nearshoring) tiếp tục được thúc đẩy. Cùng với đó là xu hướng bảo hộ, tăng cường áp dụng sở hữu trí tuệ, kiểm soát xuất khẩu nguồn tài nguyên chiến lược. Nhiều nước sẽ tăng cường tự chủ chiến lược, đa dạng hóa chuỗi cung ứng trước các cú sốc bên ngoài; tăng cường kiểm soát xuất khẩu hoặc áp đặt tiêu chuẩn mới (về phát thải các-bon, chống phá rừng, thuế…). Đồng thời, nhiều nước sẽ đi sâu vào công nghệ các-bon thấp, phát thải thấp, năng lượng tái tạo, như điện hạt nhân, hydro xanh, phát triển nhà máy hạt nhân nổi, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ – SMR…). Xu hướng “phi đô-la hóa” gia tăng trong bối cảnh Nga, Trung Quốc và một số quốc gia khác thúc đẩy thanh toán bằng đồng nội tệ.
Năm là, các vấn đề quản trị xã hội, trào lưu xã hội mới, nhân khẩu học và già hóa dân số ngày càng có nhiều tác động đối với an ninh, phát triển của quốc gia. Vấn đề nội trị của quốc gia, khu vực chịu tác động mạnh mẽ từ căng thẳng địa – chính trị, mặt trái của toàn cầu hóa, nguy cơ xâm lăng văn hóa, di cư/nhập cư, trào lưu xã hội mới, tin giả, tin xấu độc, chủ nghĩa cực đoan trên mạng xã hội. Các vấn đề dân tộc, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng có ảnh hưởng lớn. Thay đổi về nhân khẩu học, già hóa dân số đang là xu thế toàn cầu. Nền kinh tế “tóc bạc” có thể trở thành động lực quan trọng trong nền kinh tế. Đến năm 2050, ước tính thế giới có khoảng 1,6 tỷ người trên 65 tuổi(7). Trong khi đó, hiện nay thế hệ “millennials”(8) (có khoảng 1,8 tỷ người) sẽ là lực lượng lao động chủ chốt trong giai đoạn tới(9).
Sáu là, khu vực châu Á – Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương duy trì là “đầu tàu” phát triển năng động, là thị trường hấp dẫn hàng đầu đối với nhà đầu tư, tâm điểm của những liên kết kinh tế mới và động lực của tăng trưởng kinh tế thế giới, song tiếp tục là tâm điểm của cạnh tranh nước lớn. Hiện nay, khu vực châu Á – Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương chiếm hơn 60% dân số thế giới, hơn 60% tổng giá trị thương mại trên biển, khoảng 60% GDP toàn cầu, có 4/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ), với nhiều điều ước quan trọng về kinh tế, như Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là trung tâm của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đến năm 2050, riêng khu vực châu Á dự kiến chiếm tới 52% kinh tế thế giới, đóng góp 2/3 tăng trưởng của kinh tế toàn cầu(10). Bên cạnh các “điểm nóng” tiềm tàng khác ở khu vực Đông Á, tình hình Biển Đông sẽ bước vào giai đoạn phức tạp mới, với tính rủi ro, khó lường gia tăng.
Đánh giá cơ hội, thách thức đối với đất nước trong kỷ nguyên mới
Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lọt vào danh sách 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, danh sách 20 quốc gia có thương mại hàng đầu thế giới, có quan hệ ngoại giao với 194 nước và quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng mạng lưới 35 đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác toàn diện, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay, Việt Nam được kỳ vọng đóng góp nhiều hơn vào nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, phát triển bền vững của khu vực và thế giới, cũng như quá trình định hình các khuôn khổ pháp lý quốc tế công bằng, bình đẳng.
Sự thay đổi mạnh mẽ của cán cân sức mạnh giữa các trung tâm quyền lực, các nước lớn đang tạo ra không ít thuận lợi và thách thức đan xen đối với việc thực hiện nhiệm vụ đối ngoại.
Về cơ hội
Hòa bình, hợp tác, phát triển tiếp tục là xu thế lớn. Các nước lớn dù cạnh tranh quyết liệt, nhưng vẫn tránh đối đầu, xung đột trực diện và vẫn có nhu cầu duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên toàn cầu. Việc tận dụng tốt ưu thế về vị trí địa lý và sự rộng mở của quan hệ đối ngoại sẽ tạo nhiều dư địa hơn để thúc đẩy hợp tác, đa dạng hóa, đan xen lợi ích trong khuôn khổ Liên hợp quốc, ASEAN, các cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mê Công, kết nối hạ tầng, kết nối kinh tế, kết nối số, hợp tác chuyển giao khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, giao lưu nhân dân với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo ra sự đan xen lợi ích cần thiết cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn trong và ngoài khu vực; tạo thêm cơ hội khẳng định và nâng cao vị thế quốc gia, đóng góp vào quá trình định hình khuôn khổ pháp lý quốc tế trên lĩnh vực mới phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc, cũng như việc giải quyết vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiến bộ mới về khoa học – công nghệ và các lĩnh vực phát triển mới đang mở ra cơ hội để bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển với thế giới, trong đó có các quốc gia “đi sau”. Việc tranh thủ tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực hỗ trợ của cộng đồng quốc tế sẽ giúp mang lại nhiều xung lực quan trọng, có tính đột phá cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh các nước lớn tăng cường triển khai sáng kiến hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế, hình thành chuỗi cung ứng mới, chuỗi sản xuất mới, cơ hội nâng cao vị trí trong chuỗi cung ứng, sản xuất của khu vực và toàn cầu nếu nắm bắt được thời cơ đang được mở ra. Việc nâng cấp, nâng tầm quan hệ với nhiều đối tác chủ chốt tạo dư địa lớn để mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) chất lượng cao, thúc đẩy đột phá về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực.
Về thách thức
Môi trường quốc tế và khu vực sẽ biến động mạnh hơn, tác động lớn đến an ninh và phát triển, gây nhiều khó khăn trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành về bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển kinh tế – xã hội, an ninh con người, trật tự, an toàn xã hội,… Sự gia tăng xu hướng chính trị cường quyền, hành động đơn phương, vi phạm luật pháp quốc tế đặt ra nhiều thách thức đối với việc bảo vệ chủ quyền, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các nước.
Thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đan xen vẫn là nguy cơ thường trực, khó giải quyết, thậm chí phức tạp hơn trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, với tính bất ổn, bất trắc và bất định ngày càng gia tăng.
Nguy cơ tụt hậu hiện hữu nếu không tận dụng tốt cơ hội để chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa vào đổi mới sáng tạo, tri thức, công nghệ cao. Nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút FDI và phát triển các ngành công nghiệp, tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt. Bên cạnh đó, các thách thức trong vấn đề xã hội, nhất là già hóa dân số – một xu hướng đang diễn ở ra nhiều nước trên thế giới, ngày càng gia tăng, tác động đến lực lượng lao động và tạo gánh nặng lớn lên ngân sách an sinh xã hội.
Bối cảnh trên đặt ra yêu cầu cao hơn đối với đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới.
Sự điều chỉnh trong tư duy, nhận thức về mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và nhiệm vụ đối ngoại. Vị trí, vai trò của đối ngoại trong giai đoạn mới được xác định là “trọng yếu, thường xuyên”, cùng với quốc phòng – an ninh. Mục tiêu của đối ngoại trong bất kỳ giai đoạn nào cũng là vì “lợi ích quốc gia – dân tộc”, song việc cụ thể hóa và xác định thứ tự ưu tiên sẽ khác nhau qua từng thời kỳ. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hướng tới các mục tiêu năm 2030 và năm 2045, các lợi ích về phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần được đặt ở vị trí ưu tiên cao. Nguyên tắc và phương châm đối ngoại là “bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc”, “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhưng cách thức thực hiện nguyên tắc, phương châm đối ngoại cần được điều chỉnh, đổi mới phù hợp với tình hình, góp phần hiện thực hóa thành công các mục tiêu phát triển của đất nước.
Nhiệm vụ đối ngoại về cơ bản xoay quanh mục tiêu về quốc phòng, an ninh, phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định “vai trò tiên phong của đối ngoại” trong “tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Trong giai đoạn tới, nhiệm vụ của đối ngoại được cụ thể hóa và đặt ở tầm cao hơn, bám sát tinh thần định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng và phát triển ngành ngoại giao.
Định hướng nhiệm vụ trên phản ánh sự đổi mới tư duy về vị trí, vai trò của đối ngoại trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là nền ngoại giao chủ động, tích cực và sáng tạo hơn, gắn kết chặt chẽ hơn giữa bên trong và bên ngoài, tạo thuận lợi và đóng góp thiết thực cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đó cũng là nền ngoại giao có năng lực và sẵn sàng đóng góp nhiều hơn, hiệu quả hơn vào giải quyết vấn đề chung của khu vực và toàn cầu; qua đó, tạo thế và lực mới cho đất nước, nâng cao hơn nữa uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Thay đổi trong nhận thức, đánh giá về tình hình thế giới, khu vực thời gian tới là cơ sở cho sự điều chỉnh, thay đổi trong tư duy và triển khai đối ngoại. Nhận thức chính xác về xu thế phát triển của thế giới, gắn với con đường, mục tiêu và yêu cầu phát triển của đất nước sẽ giúp định vị đúng Việt Nam trong dòng chảy chung của thế giới.
Con đường, mục tiêu và yêu cầu phát triển đất nước đã được xác định rõ. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Để đạt được các mục tiêu đó, Việt Nam cần bảo đảm một số điều kiện sau:
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; duy trì cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển. Cùng với việc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang ngày càng có tác động đan xen, Việt Nam cần tiếp tục củng cố vững chắc mạng lưới quan hệ với các đối tác, nhất là quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế, khoa học – công nghệ hàng đầu trên thế giới, tối đa hóa được cơ hội hợp tác để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Giải phóng được các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (thương mại, xuất khẩu) đi đôi với việc tích cực tìm kiếm, phát huy động lực tăng trưởng mới, nhất là ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao (công nghệ số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, nông nghiệp thông minh…), để duy trì mức tăng trưởng cao liên tục, vươn lên, bứt phá.
Hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều sâu, tham gia ở mức cao hơn trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Việt Nam cần chuyển hóa, tích lũy hiệu quả hơn nguồn lực bên ngoài thành nội lực bên trong, tạo cơ sở để tiến hành thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), như CPTPP, RCEP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA),… để mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Theo đó, Việt Nam cần kết nối chặt chẽ, hiệu quả giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài theo định hướng xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (MSMEs) thông qua đầu tư vào khoa học – công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và đào tạo nguồn nhân lực.
Đổi mới thể chế, tháo gỡ nút thắt, mở đường cho phát triển; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Đây được coi là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” đối với phát triển đất nước hiện nay, cần được tháo gỡ để tạo động lực cho phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của quá trình xác lập phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại, cũng như đòi hỏi của tiến trình hội nhập quốc tế theo chiều sâu. Đồng thời, xây dựng phương án lâu dài, phù hợp để ứng phó hiệu quả với thách thức.